<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/42340</link>
    <description />
    <pubDate>Mon, 01 Jun 2026 12:15:13 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-06-01T12:15:13Z</dc:date>
    <item>
      <title>Tác động của lãnh đạo nghịch lý đến sự sáng tạo của nhân viên: Vai trò trung gian của an toàn tâm lý, động lực nội tại và linh hoạt nhận thức tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TP. Hồ Chí Minh</title>
      <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78064</link>
      <description>Title: Tác động của lãnh đạo nghịch lý đến sự sáng tạo của nhân viên: Vai trò trung gian của an toàn tâm lý, động lực nội tại và linh hoạt nhận thức tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TP. Hồ Chí Minh
Author(s): Nguyễn Bích Thủy
Abstract: Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá tác động của phong cách lãnh đạo nghịch lý đến sự sáng tạo của nhân viên và kiểm tra vai trò trung gian của sự an toàn tâm lý, động lực nội tại và tính linh hoạt nhận thức trong mối quan hệ này. Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và đổi mới. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi từ 440 nhân viên và quản lý toàn thời gian, và phân tích PLSSEM được thực hiện bằng phần mềm SmartPLS 3. Kết quả cho thấy phong cách lãnh đạo nghịch lý có tác động tích cực trực tiếp đến sự sáng tạo của nhân viên và gián tiếp thúc đẩy sự sáng tạo thông qua động lực nội tại và tính linh hoạt nhận thức. Hơn nữa, trong khi sự an toàn tâm lý ảnh hưởng trực tiếp đến sự sáng tạo, nó lại đóng vai trò điều tiết tiêu cực trong mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo nghịch lý và sự sáng tạo, vì sự an toàn tâm lý cao hơn làm suy yếu tác động tích cực của phong cách lãnh đạo nghịch lý. Những phát hiện này làm phong phú thêm khung lý thuyết về phong cách lãnh đạo nghịch lý và hành vi đổi mới trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam và cung cấp những hàm ý quản lý để thúc đẩy đổi mới bằng cách tăng cường động lực nội tại, tính linh hoạt nhận thức và tạo ra môi trường tâm lý phù hợp.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78064</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến mức độ phát thải carbon ở Việt Nam</title>
      <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78063</link>
      <description>Title: Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến mức độ phát thải carbon ở Việt Nam
Author(s): Trương Gia Khương
Abstract: Sau hơn bốn thập kỷ thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế và cải thiện đáng kể phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy phát thải CO₂ trong nước có xu hướng gia tăng ngày càng phức tạp và khó dự báo, trở thành một trong những thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững. Phần lớn các nghiên cứu và thảo luận chính sách hiện nay chủ yếu tiếp cận vấn đề gia tăng phát thải carbon từ góc độ hoạt động của con người hoặc những biến đổi môi trường mang tính khách quan, trong khi các phân tích toàn diện về khía cạnh kinh tế – xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và phát thải carbon, vẫn còn hạn chế trong bối cảnh tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống đó thông qua việc áp dụng khuôn khổ phân tích dựa trên giả thuyết đường cong Kuznets dạng chữ U ngược và các lý thuyết liên quan đến bất bình đẳng thu nhập và phát thải carbon, có tham chiếu đến nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, để làm rõ mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng thu nhập và phát thải carbon. Về mặt định lượng, nghiên cứu sử dụng mô hình STIRPAT với bộ dữ liệu thứ cấp cấp tỉnh trong giai đoạn 2018–2024 và áp dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS). Kết quả cho thấy bất bình đẳng thu nhập tác động đến phát thải CO₂ theo hướng phi tuyến tính; yếu tố dân số có tác động đồng thời tuyến tính và phi tuyến; trong khi tăng trưởng kinh tế và phát triển công nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức phát thải CO2. Nghiên cứu đồng thời đưa ra các hàm ý chính sách nhằm giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và phát thải carbon trong tiến trình phát triển bền vững.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78063</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>The impact of the first childbirth on gender inequality in labor market outcomes in Vietnam</title>
      <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78062</link>
      <description>Title: The impact of the first childbirth on gender inequality in labor market outcomes in Vietnam
Author(s): Nguyen Duy Anh Dong
Abstract: This study explores a key paradox in the Vietnamese labor market. Despite having one of the world's highest female labor force participation rates, Vietnam experiences a severe “child penalty,” which is significantly greater than that observed in developed countries. Utilizing pooled repeated cross-sectional data from the Vietnam Household Living Standard Surveys (VHLSS) between 2008 and 2022, and employing an event study model, this research examines the changes in earnings, working hours, and hourly wages for women compared to men following the birth of their first child. The empirical findings reveal a substantial and persistent child penalty. In the long run, women experience an earnings decline of approximately 68% relative to similarly qualified men. Crucially, the analysis decomposes this penalty to reveal that it does not stem from women exiting the labor market (the participation margin). Instead, it arises from a "dual penalty": a sharp reduction in working hours combined with a decline in hourly wage rates. Heterogeneity analysis further indicates that this penalty is most pronounced in urban centers and industrialized hubs like the Southeast region. This study provides quasi-causal evidence using a repeated cross-sectional event study design. It highlights how gender inequality is reinforced after childbirth in Vietnam, while acknowledging key limitations. The findings point to policy reforms such as expanding childcare services, introducing non-transferable paternal leave (“daddy quotas”), and promoting flexible work arrangements.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78062</guid>
      <dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh</title>
      <link>https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78043</link>
      <description>Title: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Author(s): Nguyễn Ngọc Toàn
Abstract: Đề tài nghiên cứu “Giả i pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bi ̀nh, Thành phố Hồ Chi ́ Minh” được thực hiện tại Chi cục thuế quận Tân Bi ̀nh, Thành phố Hồ Chi ́ Minh nhằm khám phá tác động của các nhân tố thuộc chất lượng dịch vụ hành chính thuế đến chất lượng di ̣ch vụ của doanh nghiệp nhìn từ góc độ người nộp thuế. Dựa trên cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu cùng năm giả thuyết được đề nghị. Đề tài thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm chuyên gia để xây dựng thang đo. Bảng câu hỏi khảo sát và nghiên cứu định lượng với các bước: phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến và kiểm định các giả thuyết. Chất lượng dịch vụ hành chính thuế theo mô hình nghiên cứu gồm năm nhân tố: cơ sở vật chất; sự tin cậy; năng lực phục vụ; khả năng đáp ứng và sự đồng cảm. Kết quả cho thấy cả năm nhân tố đều có ảnh hưởng thuận chiều đến chất lượng di ̣ch vụ của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục thuế quận Tân Bi ̀nh. Trong đó nhân tố khả năng đáp ứng tác động mạnh nhất, tiếp theo là năng lực phục vụ, sự tin cậy, cơ sở vật chất, sau cùng là sự đồng cảm. Kết quả trên là căn cứ quan trọng để đưa ra những đề xuất đối với các nhà quản trị công, trong việc đề ra các chính sách và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế. Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại cần được khắc phục; những hạn chế là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo góp phần xây dựng mô hình nghiên cứu hoàn thiện có tính khái quát cao để đưa ra nhiều giải pháp xác thực hơn</description>
      <pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/78043</guid>
      <dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

