Advanced
Please use this identifier to cite or link to this item: https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77944
Full metadata record
DC FieldValueLanguage
dc.contributor.advisorAssoc. Prof. Dr. Nguyễn Thị Hồng Nhâmen_US
dc.contributor.authorNguyễn Ngọc Minh Châuen_US
dc.date.accessioned2026-05-07T02:37:10Z-
dc.date.available2026-05-07T02:37:10Z-
dc.date.issued2025-
dc.identifier.urihttps://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/77944-
dc.description.abstractNghiên cứu phân tích tác động của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (DMCN) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, sử dụng bộ dữ liệu bảng cân bằng gồm 319 doanh nghiệp trên HOSE và HNX giai đoạn 2020 - 2024. Trong mô hình nghiên cứu, DMCN được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận gộp, trong khi hiệu quả hoạt động được phản ánh thông qua ROE, ROA và doanh thu thuần (DT). Mô hình hồi quy sử dụng DMCN làm biến giải thích chính, kết hợp quy mô doanh nghiệp (QM) và biến tương tác DMCN_QM nhằm kiểm định vai trò điều tiết của quy mô, đồng thời kiểm soát cấu trúc tài sản (CS), cấu trúc vốn (CV), thời gian hoạt động (TG), bất ổn chính sách kinh tế (EPU), tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (CPI). Nghiên cứu áp dụng các phương pháp ước lượng vững FGLS và GMM nhằm xử lý phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và nội sinh trong dữ liệu bảng. Kết quả thực nghiệm cho thấy DMCN có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đối với ROE, ROA và DT, khẳng định đổi mới công nghệ là động lực quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, cải thiện hiệu quả vận hành và mở rộng quy mô hoạt động trong môi trường kinh doanh số. QM tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động, phản ánh lợi thế về nguồn lực và năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, DMCN_QM mang dấu âm, cho thấy lợi ích biên của đổi mới công nghệ suy giảm khi quy mô doanh nghiệp vượt ngưỡng tối ưu. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát cho thấy những tác động phân hóa đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Cụ thể, CS, CV, CPI và GDP cho thấy tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, phản ánh áp lực từ chi phí tài chính, biến động dòng tiền, lạm phát và tăng trưởng kinh tế chưa lan tỏa đầy đủ vào hiệu quả vi mô; trong khi thời gian hoạt động (TG) và mức độ bất ổn chính sách kinh tế (EPU) tác động cùng chiều, cho thấy vai trò của kinh nghiệm tích lũy và khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp trước những thay đổi chính sách trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động.en_US
dc.format.medium84 tr.en_US
dc.language.isoVietnameseen_US
dc.publisherĐại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minhen_US
dc.subjectĐổi mới công nghệen_US
dc.subjectChuyển đổi sốen_US
dc.subjectHiệu quả hoạt độngen_US
dc.subjectQuy mô doanh nghiệpen_US
dc.subjectGMMen_US
dc.subjectTechnological innovationen_US
dc.subjectDigital transformationen_US
dc.subjectFirm performanceen_US
dc.subjectFirm sizeen_US
dc.titleNghiên cứu tác động của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.en_US
dc.typeMaster's Projecten_US
ueh.specialityFinance (by Coursework) = Tài chính (hướng ứng dụng)en_US
item.fulltextFull texts-
item.languageiso639-1Vietnamese-
item.cerifentitytypePublications-
item.openairecristypehttp://purl.org/coar/resource_type/c_18cf-
item.grantfulltextreserved-
item.openairetypeMaster's Project-
Appears in Collections:MASTER'S PROJECTS
Files in This Item:

File

Size

Format

Show simple item record

Google ScholarTM

Check


Items in DSpace are protected by copyright, with all rights reserved, unless otherwise indicated.